Tìm hiểu về đạm sữa truyền tĩnh mạch

dam-sua-truyen-tinh-mach

Đạm sữa, đạm nhũ tương, đạm nuôi dưỡng hay túi dinh dưỡng 3 ngăn,… không còn xa lạ đối với những bệnh nhân cần nuôi ăn qua đường tĩnh mạch. Cùng tìm hiểu về dịch truyền đạm sữa truyền tĩnh mạch qua bài viết này.

Đạm sữa truyền tĩnh mạch là gì?

Đạm sữa và túi dinh dưỡng 2 ngăn, 3 ngăn thuộc nhóm dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch nhằm nuôi ăn ngoài đường tiêu hóa cho bệnh nhân trong những trường hợp đường tiêu hóa không thể, không đáp ứng đầy đủ hoặc chống chỉ định dinh dưỡng.

Đạm sữa nhũ tương lipid được bào chế dưới dạng nhũ tương truyền tĩnh mạch có màu trắng sệt đồng nhất. Khác với dịch nhũ tương thì túi dinh dưỡng có 2 hoặc 3 ngăn bao gồm nhũ dịch lipid, dung dịch glucose, amino acid và chất điện giải. Đạm sữa hay túi dinh dưỡng đều cung cấp các acid béo thiết yếu như một phần của nuôi dưỡng toàn phần qua đường tĩnh mạch.

dam-sua-truyen
Đạm sữa – Nhũ dịch Lipid

tui-dinh-duong-3-ngan
Túi dinh dưỡng 3 ngăn

Qua các thế hệ nhũ dịch lipid đạm sữa cải thiện tính gây viêm và tính chống viêm. Nhũ dịch đạm sữa được phân loại cho đến nay được biết qua 4 thế hệ là:

  • Thế hệ 1 1960: Soybean Oil (Intralipid)
  • Thế hệ 2 1980s: Soybean Oil + MCT
  • Thế hệ 3 1990s: Soybean Oil + Olive Oil (ClinOleic)
  • Thế hệ 4 hiện tại: Fish Oil (Omegaven), Fish Oil + MCT + Olive Oil + Soybean Oil (SMOFlipid)

Truyền đạm sữa có tác dụng gì?

Nhũ dịch lipid cũng được sử dụng khi đường tiêu hóa cần nghỉ ngơi và chống chỉ định ăn uống. Cần thiết trong bệnh Crohn, viêm tụy, viêm loét đại tràng và tiêu chảy kéo dài ở người lớn và trẻ nhỏ.

Truyền đạm sữa được chỉ định trong những trường hợp cần bổ sung dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa.  Nhũ dịch cung cấp năng lượng và acid béo cần thiết khi bệnh nhân không ăn được do chấn thương, nhiễm khuẩn, bỏng nặng hoặc sau khi mổ ở người có rối loạn dinh dưỡng.

Đạm sữa truyền tĩnh mạch được sử dụng khi bệnh nhân có dấu hiệu ruột bị tắc nghẽn, có lỗ rò đường tiêu hóa (kết nối bất thường) hoặc khi ruột non không hấp thụ chất dinh dưỡng đúng cách.

Tìm hiểu về: Truyền nước hoa quả

Các loại nhũ dịch đạm sữa và túi dinh dưỡng 2 ngăn, 3 ngăn

Đạm sữa (nhũ dịch lipid) Túi dinh dưỡng 2 ngăn, 3 ngăn
Lipidem®, Lipofundin® MCT/LCT 10%, Lipofundin® MCT/LCT 20%, Lipovenoes® 10%, … Túi dinh dưỡng 2 ngăn: Nutriflex® peri, Nutriflex® plus, Nutriflex® special.
Túi dinh dưỡng 3 ngăn: Nutriflex® Lipid peri, Nutriflex® Lipid special, Combilipid® Peri, MG-TAN inj.

Ngoài những loại đã được liệt kê ở trên, sẽ có những tên thương mại khác. Tham khảo các thông tin về thuốc cũng như nhãn hiệu trước khi sử dụng tại cục quản lý dược của Bộ Y Tế.

Cách sử dụng nhũ dịch truyền đạm sữa

Lắc nhẹ trước khi sử dụng. Nhũ tương lipid là thích hợp để sử dụng ở tĩnh mạch ngoại biên và cũng có thể được cho dùng riêng qua các tĩnh mạch ngoại biên như một phần của nuôi dưỡng toàn phần qua đường tĩnh mạch. Nếu nhũ tương lipid được dùng đồng thời với các dung dịch acid amin và carbohydrate, phải đặt đầu nối chữ Y hoặc đầu nối thông càng gần bệnh nhân càng tốt.

Là một nhũ dịch có tính chất kém bền nên tránh việc trộn chung với các dung dịch khác vì sẽ phá vỡ độ bền vững của các tiểu phân chất béo.

Lưu ý trước khi sử dụng nhũ dịch lipid

Xét nghiệm trước khả năng đào thải lipid

Lấy mẫu máu và ly tâm trước khi truyền đạm sữa. Nếu thấy huyết tương giống như sữa hoặc trắng đục, thì không được truyền. Không đánh giá tình trạng tăng triglycerid máu bằng phương pháp này. Nếu nghi ngờ bệnh nhân không dung nạp lipid, cần dùng những phương pháp xét nghiệm đặc hiệu để phân tích triglycerid huyết thanh.

Tốc độ truyền tối đa

Truyền tốc độ thấp nhất có thể. Theo dõi sát bệnh nhân trong quá trình truyền dịch.

  • Người lớn: Lên đến 0,15g/kg/giờ đối với lipid. Đối với một bệnh nhân nặng 70 kg con số này tương đương tốc độ truyền tối đa là 52,5 – 105 ml (tùy vào loại sử dụng) mỗi giờ. Lượng lipid được dùng khi đó là 10,5 g/giờ.
  • Trẻ sơ sinh thiếu tháng, trẻ sơ sinh đủ tháng, trẻ sơ sinh và trẻ tập đi: Lên đến 0,17 g/kg/giờ đối với lipid.
  • Trẻ em và trẻ vị thành niên: Lên đến 0,13 g/kg/giờ đối với lipid.

Tương tác thuốc

Việc sử dụng chung với các chất không tương thích có thể dẫn đến làm phân hủy nhũ tương hoặc kết tủa các phần tử. Cả hai tình trạng này đều dẫn đến nguy cơ tắc mạch, nghẽn mạch cao.

Đạm sữa có tương tác với heparin và các dẫn xuất của coumarin. Nhưng phải được theo dõi ở các bệnh nhân được điều trị đồng thời bằng coumarin bị tình trạng đông máu.

Truyền đạm sữa nhũ dịch lipid có thể ảnh hưởng tới kết quả xét nghiệm.

Thận trọng khi lựa chọn sử dụng dịch truyền đạm sữa

  • Nồng độ triglyceride huyết thanh phải được theo dõi thường xuyên trong quá trình truyền
  • Giảm tốc độ truyền nếu nồng độ triglyceride huyết tương vượt quá 4,6 mmol/l (2,8 mmol/l với bệnh nhi). Ngưng truyền nếu vượt quá 11,4 mmol/l (4,5 mmol/l).
  • Điều chỉnh và kiểm soát sự rối loạn điện giải trước khi truyền.
  • Bệnh nhân nhạy cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.
  • Sử dụng kèm carbohydrate và acid amin đầy đủ vì chỉ bằng nhũ tương lipid có thể gây ra nhiễm toan chuyển hóa.
  • Bệnh nhân lớn tuổi có bệnh nền, suy giảm chức năng chuyển hóa lipid.

Hy vọng bài viết này đã cung cấp cho mọi người kiến thức cơ bản về nhũ dịch lipid và dinh dưỡng đường tĩnh mạch. Mọi thông tin vmedi đề cập chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp cần sử dụng dịch truyền đạm sữa cần có sự tham vấn và chỉ định của bác sĩ.

Nếu có câu hỏi nào vui lòng liên hệ với chúng tôi: Vmedi – Y Tế Lưu Động

Y/Ds. Nguyễn Thức

4.9/5 - (7 bình chọn)

Leave A Reply